Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

GS. Trần Văn Thọ: Chỉ làm bất động sản thì không thể công nghiệp hoá!

GS Trần Văn Thọ, Đại học Waseda (Nhật Bản) cho rằng 80% người giàu nhất Nhật Bản là làm công nghiệp, còn hầu hết DN lớn nhất Việt Nam hiện nay chỉ làm bất động sản thì không thể công nghiệp hoá thành công

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình phát biểu tại hội thảo - Ảnh: Thế Dũng

Sáng nay 10-3, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Bộ Công thương tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035”.

Hội thảo có sự tham dự của nhiều lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, doanh nghiệp (DN) lớn và chuyên gia đến từ hơn 20 tổ chức quốc tế.

Chủ trì hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cho rằng các chính sách chung và chính sách ngành trong lĩnh vực công nghiệp ban hành thời gian qua đã có tác động tích cực đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam hơn 30 năm đổi mới vừa qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây.

Kết quả thể hiện cụ thể qua giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị gia tăng công nghiệp tăng trưởng liên tục trong nhiều năm. Cụ thể, giai đoạn 2006-2015, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng 3,42 lần; tỷ trọng GDP công nghiệp duy trì ổn định khoảng 31-32% GDP; tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp bình quân 6,9%/năm; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiêp tăng gần 3,5 lần…

Tuy nhiên, người đứng đầu cơ quan tham mưu chính sách kinh tế của Đảng đánh giá quá trình phát triển công nghiệp cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Điển hình như công nghiệp ở trình độ thấp, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, nội lực còn yếu, phụ thuộc nhiều vào DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sự liên kết giữa DN FDI với DN trong nước còn hạn chế.

Gia tăng công nghiệp đang có xu hướng giảm khi giai đoạn năm 2006-2010 tỉ lệ là 16,2% thì giai đoạn 2011-2015 chỉ còn 10%.

Đáng nói công nghiệp chủ yếu là khai khoáng, lao động giá rẻ, ít ngành công nghệ cao; năng suất lao động, chế biến chế tạo còn khá thấp; đóng góp của công nghệ trong tăng năng suất tỷ lệ thấp; liên kết với DN nước ngoài thiếu chặt chẽ, khả năng tham gia chuỗi giá trị hạn chế.

Đáng ngại hơn là tăng trưởng vốn cho công nghiệp đang xu hướng giảm, DN chưa chú trọng nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ, hiệu quả khối DN công nghiệp còn thấp.

Cùng với đó là tình trạng không gian bị chia tách theo địa giới hành chính, các tỉnh cạnh tranh với nhau không phân chia thế mạnh từng địa phương.

Cùng với đó là tốc độ tăng năng suất lao động của ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2015 khoảng 2,4%/năm – thấp hơn bình quân chung của nền kinh tế (3,9%). Còn so với năng suất lao động ngành của khu vực thì Việt Nam thấp hơn Malaysia và Thái Lan 6,4 lần, thấp hơn Philippines 3,6 lần.
"Nước ta không tận dụng tốt lợi thế dân số vàng, đang đối diện với nguy cơ hậu công nghiệp hoá quá sớm. Việt Nam chưa có chính sách công nghiệp tổng thể, dài hạn. Thiếu các chính sách cụ thể, ưu tiên nguồn lực để theo đuổi nhất quán mục tiêu đề ra" - Trưởng ban Kinh tế Nguyễn Văn Bình thẳng thắn chỉ rõ.

GS Trần Văn Thọ: 80% người giàu nhất Nhật Bản là làm công nghiệp, còn phần lớn các DN lớn nhất Việt Nam hiện nay chỉ làm bất động sản thì không thể công nghiệp hoá thành công

Cùng quan điểm với ông Nguyễn Văn Bình, GS. kinh tế Trần Văn Thọ, Đại học Waseda (Nhật Bản) nhận xét: "Công nghiệp Việt Nam chưa giàu đã già, chuyển qua hậu công nghiệp quá sớm".

Ông Thọ dẫn ví dụ Hàn Quốc hay Nhật Bản thu nhập bình quân đầu người 30.000 USD/năm thì công nghiệp/GDP mới bắt đầu giảm, trong khi Việt Nam thu nhập mới 3.000 USD đã chuyển sang hậu công nghiệp.

"Chuyển sang hậu công nghiệp sớm thì tốc độ phát triển kinh tế giảm"- ông GS. Thọ quan ngại.
Làm rõ thêm, GS Trần Văn Thọ cho rằng đáng lẽ nông nghiệp rồi chuyển sang công nghiệp - dịch vụ và lo ngại hơn là Việt Nam cùng với nhiều nước trong khối Asean có tình trạng tỷ lệ công nghiệp có khuynh hướng giảm.

Một thách thức khác theo GS. Trần Văn Thọ là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 có điểm nổi bật là "lao động khuynh hướng giảm" và trên thực tế các DN FDI ở Việt Nam bắt đầu giảm lao động từ 5-7 năm nay, thu hút lao động trên một đơn vị công nghiệp giảm.

Đi vào góp ý cụ thể, GS Trần Văn Thọ cho rằng 2 lĩnh vực Việt Nam cần chú trọng là các loại máy móc (như: xe hơi, xe máy, máy in, máy công cụ, máy tính, camera…) và công nghiệp thực phẩm chế biến từ nông thủy sản mà Việt Nam có nguồn cung cấp phong phú.

Về các loại máy móc, nhu cầu thế giới ngày càng lớn vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu và tạo điều kiện để DN FDI chuyển dịch chất lượng sản phẩm lên cao hơn. Vì khi thu nhập tăng 1% thì chi tiêu máy móc tăng 2-3%.

Theo ông Thọ, Việt Nam cần tận dụng quốc gia có 100 triệu dân là sức mạnh lớn để đẩy mạnh công nghiệp hoá cả rộng lẫn sâu. Cụ thể cần tập trung đào tạo nhân lực công nghệ cao, thích ứng thay đổi công nghệ.

"Nhưng đừng chú trọng bậc học, bằng cấp. Việt Nam đổ xô học đại học, lập trường đại học. Chỉ cần học cao đẳng 2 năm, 1 năm học văn hoá, 1 năm chuyên môn là đi làm được"- ông Thọ lưu ý.

Dẫn chứng về lập luận của mình, vị giáo sư người Việt tại Đại học Waseda cho biết giai đoạn 1955-1975, công nghiệp hoá ở Nhật Bản rất mạnh mẽ nhưng lao động của họ năm 1955 thì tốt nghiệp cấp 2 chiếm 60%. Đến năm 1975 cấp 3 chiếm 60%, còn lại 34% trên cao đẳng.

Ông Thọ kiến nghị đẩy mạnh du nhập nguồn lực nước ngoài ngoài FDI, như hợp đồng công nghệ. Việt Nam cần cùng lúc có chính sách khôn ngoan chọn lựa DN FDI và chính sách nuôi dưỡng DN tư nhân trong nước. Đồng thời phải tạo điều kiện cho DN Việt Nam kết nối có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước tạo lập thương hiệu riêng.

"80% người giàu nhất Nhật Bản là làm công nghiệp, còn hầu hết các DN lớn nhất Việt Nam hiện nay chỉ làm bất động sản thì không thể công nghiệp hoá thành công được. Vì vậy, Chính phủ nên đối thoại với các tập đoàn lớn để biết cần có chính sách gì để khuyến khích họ mở rộng sang sản xuất công nghiệp và nâng cao diện sản xuất. Bên cạnh đó cần ưu tiên củng cố nội lực, cụ thể là tăng năng lực quản trị nhà nước và xây dựng tư bản dân tộc ngày càng vững mạnh; rà soát và lập lại chiến lược hội nhập; chính sách đào tạo nguồn nhân lực cũng phải thay đổi thông qua việc tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao"- GS. Trần Văn Thọ thẳng thắn đề xuất.

Còn theo TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP HCM, nếu theo đuổi cách tiếp cận lựa chọn ngành công nghiệp mục tiêu như hiện nay thì việc lựa chọn phải được thực hiện một cách thật bài bản, kỹ lưỡng, và thận trọng.

Đó là phải dựa trên các nguyên tắc như: thuận theo lợi thế so sánh của Việt Nam; ngành ưu tiên phải tạo ra tác động lan tỏa tích cực đáng kể cho các ngành khác trong nền kinh tế; là ngành đang có tốc độ tăng trưởng cao trên thị trường nội địa hoặc thế giới; cho đến khi Việt Nam hết giai đoạn dân số vàng (dự báo điều này xảy ra vào khoảng năm 2025), Việt Nam vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh một số ngành công nghiệp thâm dụng lao động mà Việt Nam sẵn có thế mạnh (như dệt may và da giày...).
Thế Dũng

Chuyện về một TS. Harvard người Việt

"Một trong những nghiên cứu sinh Ph.D xuất sắc nhất của Havard", "một tiến sĩ đẳng cấp thế giới trong lĩnh vực kinh tế học phát triển". Ít ai ngờ lời khen ngợi của một trong những nhà kinh tế học nổi danh nhất thế giới, G.S Dale Jorgenson, lại dành cho một nghiên cứu sinh đến từ VN: TS. Vũ Minh Khương.

Mang tên gọi "Phân tích những ảnh hưởng của công nghệ thông tin tới tăng trưởng kinh tế toàn cầu", đề tài luận án tiến sĩ của anh đã "sục" vào một lĩnh vực kinh tế học còn khá mới mẻ của thế giới. Mặc dù vậy, luận án của Khương đã nhận được nhiều lời ngợi khen của các giáo sư Harvard nổi tiếng.

"Anh đã mở ra nghiên cứu về tác động của đầu tư vào CNTT trong việc đưa những nền kinh tế đang phát triển như VN nhanh chóng tiến tới đẳng cấp, chuẩn mực của các quốc gia công nghiệp hoá khác. Hiển nhiên là các tiến bộ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ sẽ đạt được nhanh chóng hơn, tạo ra nền tảng phong phú cho những kế hoạch đầu tư hơn là nông nghiệp và sản xuất, nơi mà công nghệ truyền thống vẫn giữ địa vị chủ đạo".

Vì thế, "Luận án của Khương rất ấn tượng cả về quy mô và đóng góp mới". Nhà kinh tế lừng danh thế giới, GS. Dale Jorgenson nhận xét.

Còn GS. Dwight Perkins thì cho rằng, "đó là nghiên cứu một cách hệ thống nhất về chủ đề này và sẽ rất hữu ích trong việc định hướng chính sách trong các ngành này ở nhiều nước, trong đó có VN".
Có trong tay bằng MBA tại Harvard Business School, bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sĩ tại ĐH Harvard, được khắc tên vào bảng treo ở nơi trang trọng của trường Kenedy về thành tích giảng dạy, được Ngân hàng Thế giới và nhiều tổ chức nghiên cứu tổ chức seminar để trình bày kết quả nghiên cứu, Vũ Khương có lẽ đứng trong số những người mở đầu cho thành quả xuất sắc ở đẳng cấp quốc tế mà các sinh viên VN đạt được kể từ thời đổi mới.

29 tuổi, làm hồi sinh một XN bên bờ vực phá sản
Tháng 12/1988, lần đầu tiên ở Hải Phòng, người ta chứng kiến một cuộc thi hi hữu: thi tuyển GĐ cho XN hoá chất Sông Cấm. Có một người đã nhận được hơn 90% số phiếu bầu và nhậm chức GĐ trong sự hân hoan của công nhân. Đó là Vũ Minh Khương, một thanh niên trẻ ở tuổi 29.

Sau này, ông Đoàn Duy Thành, nguyên Bí thư Thành uỷ Hải Phòng kể lại: "Ngày đó, ai cũng sợ không dám nhận trách nhiệm lãnh đạo Sông Cấm vì xí nghiệp này làm ăn thua lỗ kéo dài, đơn từ kiện tụng chồng chất”.

Khương tiếp nhận Sông Cấm trong một tình thế gần như tuyệt vọng: tiền gửi không còn, ngân hàng khoá tài khoản vì XN không có khả năng trả nợ, hầu hết công nhân phải tạm nghỉ việc trong khi cuộc sống vô cùng khó khăn. 

"Trong bối cảnh khó khăn tuyệt vọng ấy, tinh thần hy sinh và tấm lòng sâu sắc của đội ngũ công nhân đã cho tôi một sức mạnh kỳ lạ. Tôi dựa vào chính sự ủng hộ của họ để cắt giảm gần 200 công nhân dôi dư cho chuyển đổi mặt hàng sản xuất; đồng thời tích cực động viên anh chị em kỹ thuật hợp tác với Viện Hoá Công nghiệp tiếp thu công nghệ và sản phẩm mới. Tôi cũng thuyết phục được ngân hàng công thương ủng hộ phương án đổi mới sản xuất và họ đã cho vay rất tận tình. Ngày đó, tham nhũng, tiêu cực còn ít lắm nên mọi việc giải quyết khá trôi chảy dựa trên sự thấu tình, đạt lý".‎

Những ngày gian nan ấy vẫn còn sống động trong ký ức của anh.

Điều kỳ diệu đã đến khi cuối năm 1989, Sông Cấm vượt qua giai đoạn suy sụp và đi vào phát triển nhanh chóng.

Cho đến giờ, nhiều công nhân của Sông Cấm (nay là một DN tư nhân) vẫn không thể quên niềm vui bất ngờ khi họ nhận được nhẫn vàng và xe đạp mini, một tài sản lớn khối người ao ước từ tay lãnh đạo XN. Với những người đã quen lo "chạy ăn từng bữa", lúc nào cũng thấp thỏm nỗi lo thất nghiệp và "chết đói" trong những năm đất nước còn chập chững bước ra từ thời kỳ bao cấp thì đó quả là một sự kiện đáng nhớ.

"Tôi luôn tin rằng, khi Nhà nước muốn giúp phát triển một địa phương hay một DN, tìm kiếm và gửi về một người lãnh đạo có phẩm chất và khả năng ưu tú quý hơn ngàn lần việc bao cấp, tài trợ vốn và dự án thông qua một đội ngũ quản lý yếu về phẩm chất và năng lực".

Thực ra, đấy không phải lần đầu anh tiếp nhận Sông Cấm từ hai bàn tay trắng. Hai năm trước, anh đã nhận trách nhiệm PGĐ Sông Cấm trong một tình thế hiểm nghèo không kém.

Ở cái tuổi 75, nguyên Phó Chủ tịch HĐBT một thời Đoàn Duy Thành vẫn chưa quên lá thư tâm huyết của một người con đất Cảng nơi phương xa bày tỏ những suy nghĩ đồng điệu với ông về công cuộc đổi mới, về hướng đi của thành phố. (Phải nói thêm là lúc đó, Hải Phòng nổi lên như một điểm sáng trong cả nước với những cải cách táo bạo của ông Bí thư Thành uỷ như khoán chui, đào sông lấn biển, ngói hoá nông thôn... Song không phải lúc nào những đổi mới “mạnh tay” của ông Thành cũng nhận được sự đồng tình, ủng hộ - NV).

Ông Bí thư đã cho đăng báo lá thư và đáp lại trân trọng. Bất ngờ hơn, sau đó, ông lại nhận được lá thư thứ hai với một đề nghị táo bạo: xin làm GĐ một XN quốc doanh trên bờ phá sản để thử nghiệm khả năng xoay chuyển. Khi đó, Vũ Minh Khương đang có một cuộc sống ổn định tại TP. Hồ Chí Minh với một công việc là mơ ước của nhiều người: chuyên gia phân tích lập trình cho máy tính IBM/360/40, cán bộ cốt cán của Trung tâm Điện toán, Công ty Điện lực II. Công việc mà 3 năm trước, anh lính phục viên Khương đã phải gõ cửa tới hàng chục trung tâm máy tính, trải qua bao cuộc gặp thất bại mới tìm được.

Gạt ngoài tai những lời khuyên can, từ giã vợ con, anh hăm hở “vác ba lô con cóc” quay về thành phố Cảng quê hương sau nhiều tháng trắc trở trong xin chuyển công tác. Không ít người cho anh “gàn”: làm gì có chuyện một người đã có gia đình và công việc thuận lợi ở một thành phố lớn nhất nước lại xin đi.

Còn anh chỉ lý giải một cách giản dị cho hành động nhiều người cho rằng "phi thực tế" ấy. Tuổi thơ anh lớn lên ở Hải Phòng, cha mẹ anh vẫn còn ở đó. Thời trai trẻ, anh vẫn ước mơ thành phố quê hương mình sẽ vươn lên tầm vóc quốc tế, trong đó có sự góp sức của anh. "Tôi rạo rực lắm khi đọc những bài trên báo Sài Gòn Giải phóng trân trọng nỗ lực đổi mới và cải cách của nhân dân Hải Phòng dưới sự lãnh đạo của ông Đoàn Duy Thành".

Nhận xét về Khương, nhiều người từng làm việc, tiếp xúc với anh đều ấn tượng về những suy nghĩ sâu sắc, kiến giải thấu tình đạt lý và hơn hết là tâm huyết của anh.

“Ngay từ lần gặp đầu tiên, Khương đã gây ấn tượng với tôi như là người hiểu sâu sắc công việc của Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam”.

Ông Tim Campbell, một chuyên gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB) nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của ông với Vũ Minh Khương khi ông làm việc tại VN.

“Trong hai năm đó, chúng tôi thường dựa vào những nhận xét và đánh giá thông tuệ của Khương”.
Nhưng ấn tượng sống động nhất trong ký ức ông Campbell về Khương lại là lòng nhiệt tình và tâm huyết thực sự với đất nước. "Trong các câu chuyện của mình, ông Khương thường nói rất nhiều về hoài bão của mình cho đất nước VN. Gốc rễ sâu sắc của Khương là ở đây và anh ấy đã chia sẻ những cảm xúc, khao khát của mình với tôi. Nỗ lực của Khương ở Hải Phòng trong hợp tác với Ngân hàng Thế giới (WB) và sau này ở Trường ĐH Harvard luôn hướng tới tầm nhìn dài hơi mà ông đã xác định: giúp ích cho đất nước. Khương là con người truyền cảm hứng cho người đối diện theo cách đó".
Anh thì kể một cách giản dị về tuổi thơ mình như cội nguồn hun đúc ý chí mãnh liệt trong anh.
"Như bao bạn bè cùng thế hệ, tôi lớn lên trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh. Từ những năm phổ thông ở Hải Phòng đến những năm ở khoa toán của ĐHTH Hà Nội, tôi nỗ lực học tập và luôn luôn ở vị trí xuất sắc hàng đầu với ước muốn theo chân những tấm gương khoa học sáng chói thời đó...".

Những ai sinh ra trong tiếng bom rơi, đạn rền, lớn lên bằng bát cơm độn khoai, độn sắn, bằng những giờ học dang dở, luôn bị ngắt quãng bởi tiếng kẻng báo động và “thấp thỏm” lo chạy hầm tránh bom sẽ hiểu đó không phải là "lên gân", hay "hô khẩu hiệu"...

Có lẽ, chính ước mơ ấy đã giúp anh đi qua những năm tháng sinh viên nơi giảng đường khoa toán ĐHTH Hà Nội với tấm bằng xuất sắc. Đi qua những bữa ăn chỉ một bát cơm độn “bo bo” cứng, trệu trạo nhai giữa hai giờ lên lớp. Đi qua cả rất nhiều đêm không ngủ vì dạ dày lép kẹp, rận rệp đốt nhoi nhói. Đi qua những ngày “đói đến hoa mắt”, cày từng trang sách dưới ánh đèn tù mù.

Con đường trở thành một TS. Harvard xuất sắc...

Khi hoạt động của XN Hoá chất Sông cấm đã trở nên sống động và phát triển nhanh chóng với sự đoàn kết nhất trí cao của tập thể CBCNV, Vũ Minh Khương quyết định tìm kiếm con đường đi học ở nước ngoài. "Tôi muốn đến được một quốc gia phồn vinh và dốc lòng học hỏi để có được một tầm hiểu biết sâu rộng cho sự nghiệp tương lai".

Những năm đầu thời kỳ đổi mới, tiếng Anh là một cái gì đó lạ lẫm chứ chưa trở nên "thời thượng" như bây giờ, ông GĐ Khương dù "bù đầu" với công việc quản lý DN nhưng vẫn cố gắng học thứ ngoại ngữ này với một nỗ lực đặc biệt. Anh “cày nát” các băng cassette dạy tiếng Anh trên các chặng đường công tác từ Hải phòng đi Hà nội và các địa phương; với vốn tiếng Anh còn ít ỏi, anh tận dụng mọi cơ hội làm việc với các doanh nhân nước ngoài để thực hành, học hỏi. Sự chuẩn bị tích cực cùng cơ hội đã tạo nên may mắn. Năm 1992, anh được tiếp nhận vào trường QTKD Harvard và lên đường sang Mỹ học tập. Tại ĐH Hardvard, anh đã nhanh chóng chinh phục được các giáo sư và bạn học. Giáo sư Carl Sloan nhận xét: “tôi kinh ngạc thấy một sinh viên từ một nước đang phát triển có được khả năng phân tích sâu sắc như vậy”. Chính sự đánh giá cao của các GS trường QTKD Harvard trong giai đoạn này đã giúp Vũ Minh Khương trở lại Harvard một cách thuận lợi để theo đuổi học vị tiến sĩ.
Lấy xong bằng MBA ở trường QTKD Harvard, anh về nước với "khao khát đóng góp kiến thức của mình cho sự nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt với TP. Hải Phòng".

"Tôi mong muốn sớm có cơ hội trở thành lãnh đạo xuất sắc của Hải Phòng, góp phần đưa thành phố lên tầm vóc quốc tế và trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp hiện đại hoá đất nước. Tôi luôn có niềm tin mãnh liệt là các thành phố như Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM, Hà Nội có thể có được bộ máy quản lý chất lượng cao như Singapore nếu chúng ta hết sức tìm kiếm và trọng dụng cán bộ ưu tú từ mọi nguồn. Và đó sẽ là khâu then chốt để Việt Nam cất cánh, một khi môi trường kinh tế vĩ mô đã khá thuận lợi".

Thế nhưng, những kỳ vọng của con người thường hay đối mặt với thực tế nghiệt ngã. Lòng nhiệt tình của anh đã không ít lần bị "dội nước lạnh" khi những đề xuất cải cách của anh bị chối từ.
"Khương là con người của hành động, của suy nghĩ và có tâm huyết thực sự". Ông Đoàn Duy Thành nhận xét.

Tâm huyết ấy luôn là nguồn sức mạnh tiềm tàng giúp anh vượt qua bao nản lòng, thất vọng, nuôi cho anh niềm tin khi con đường đi của Khương ở Hải Phòng gặp quá nhiều trắc trở: Tôi có đề nghị rất nhiều lần với lãnh đạo TP là cho tôi làm GĐ Sở Công nghiệp (lúc này anh là Phó Văn phòng UBND TP. Hải Phòng), là ngành tôi thực sự tâm huyết cho một nỗ lực cải cách, nhưng không được chấp nhận‎.

Anh cảm nhận “TP đã trở nên quen với cách nghĩ là có được vị trí lãnh đạo là do qui hoạch và may mắn chứ không phải do chiến công và đóng góp". Sau ba năm nỗ lực công tác ở UBND TP, anh hiểu rằng cách tốt nhất để đóng góp cho đất nước là “trở thành cán bộ khoa học xuất sắc về quản lý kinh tế”. Quyết định ấy đó đưa anh trở lại với Harvard lần thứ hai. Hơn bốn năm trời học tập và làm việc trong một môi trường với những thách thức khắc nghiệt của một trường ĐH đẳng cấp hàng đầu thế giới, không phải ai cũng có thể thích nghi và tồn tại. Nhưng một lần nữa anh đã vượt lên bằng ý chí sắt đá và tinh thần thực sự cầu thị.

“Tôi muốn hiểu biết thật thấu đáo những thách đố, cơ hội và con đường đi mà Việt Nam cần phải nắm bắt để đuổi kịp Nhật Bản, Hàn Quốc; đồng thời mong muốn góp phần làm người Việt Nam mình có thể ngẩng cao đầu ở trường ĐH danh tiếng này”.

“Vũ Minh Khương là một trong những học sinh xuất sắc nhất của tôi, một TS đẳng cấp thế giới về kinh tế học phát triển”. Có lẽ giờ anh đã có thể ngẩng cao đầu với lời ngợi khen của một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng nhất thế giới.

... đến triết lý kỳ lạ về chữ VIỆT
Tấm bằng TS Harvard, sự thừa nhận của những GS hàng đầu thế giới đang hứa hẹn trước mắt anh những cơ hội đầy hấp dẫn trên đất Mỹ. Anh đã được mời làm GS thỉnh giảng tại một số trường ĐH của Hoa Kỳ.

Nhưng với Vũ Minh Khương, giấc mơ cháy bỏng thời trẻ vẫn luôn khắc khoải khôn nguôi. Và anh đang âm thầm chuẩn bị cho một cuộc trở về để đem những kiến thức đã có phục vụ cho quá trình phát triển của đất nước. Anh coi công việc hiện tại ở đất nước bạn, dù thuận lợi đến mấy, chỉ là một bước trong quá trình chuẩn bị này.

Võ Minh Khương không muốn nói nhiều về bản thân, về những thành công đã qua của mình. Được hỏi về khả năng đóng góp của anh trong tương lai, ông Tim Campbell cho rằng: “Sự đóng góp lớn của ông Khương sẽ kết nối các giá trị văn hoá, lịch sử sống còn của VN với các xu hướng và cơ hội đang nổi lên trong thế giới bên ngoài. Sự cam kết sâu sắc của Khương với VN, trí tuệ chói sáng, nhiệt tâm và kiến thức về một số hệ thống kinh tế và xã hội sẽ đem lại cho Khương khả năng đóng góp cao”.

“Trong ba năm tới, tôi dự kiến trở thành một chuyên gia kinh tế xuất sắc ở tầm vóc thế giới, đồng thời tích cực giúp sức vào công cuộc đào tạo và truyền bá kiến thức trong lĩnh vực phát triển kinh tế và hội nhập toàn cầu cho thế hệ trẻ Việt Nam” - giọng nói của anh mạnh mẽ, tự tin.

Trò chuyện với Khương, anh tin rằng nâng cao ý chí và phẩm chất dân tộc là chìa khoá then chốt tạo nên sức bật mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Anh suy tư về dân tộc và cảm nhận chữ "VIỆT" có ý nghĩa sâu sắc lắm: V là Vision, có nghĩa là tầm nhìn; I là Integrity, có nghĩa là trung trực; E là Energetic, nghĩa là nghị lực; T là Talent, nghĩa là tài năng.

Theo Khương: "dân tộc VN ta sẽ làm nên sự nghiệp phát triển thần kỳ trong những thập kỷ tới nếu mỗi người chúng ta, đặc biệt đội ngũ chủ chốt trong ba trụ cột nền tảng của sự nghiệp phát triển: nhà nước, doanh nghiệp, và giáo dục - trí thức, dốc lòng dốc sức rèn luyện và hun đúc phẩm chất VIỆT: có tầm nhìn sâu rộng; chính trực; tràn đầy nghị lực, và thực sự tài năng".
Ở tuổi ngoài 40, anh đã sẵn sàng cho một hành trình mới.
Việt Lâm